Thứ Năm, 19 tháng 12, 2013

Những điều cần nhớ khi khăn gói lên vùng cao




Những ngày cuối thu, khi Tây Bắc rực rỡ với nắng và hoa cũng là lúc dân phượt tứ phương kéo nhau ngược dòng khám phá.
Dưới đây là một số những lưu ý về phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ít người cho bạn trước khi thực hiện hành trình du lịch đến với miền đất Tây Bắc.
Không vào làng, bản khi thấy trên đường có cắm "lá cây xanh" hoặc cắm "cọc dấu". Vì dân làng (hoặc chủ nhà) đang kiêng người lạ đến.
Khi đã đến với dân làng (hoặc trong nhà dân) cần lưu ý những điểm sau:

Thiên nhiên:


+ Không vào khu rừng kiêng, rừng cấm.
+ Không làm mất vệ sinh nơi có nguồn nước sinh hoạt.
+ Không chặt phá cây đã được đánh dấu.
+ Không lấy măng, mộc nhĩ, tổ ong khi đã có người khác đánh dấu sở hữu.
+ Không bẻ mầm non dang mọc.


Trong nhà: 

 
+ Khách lạ không được đi thẳng một mạch từ (cầu thang lên nhà) đầu nhà vào bếp trong - thường có 2 bếp, 1 bếp ngoài dành cho khách.
+ Không ngồi vào cửa sổ gian tiếp khách.
+ Không ngồi ngay vào đệm ngồi khi chủ nhà chưa mời (thường dành cho bề trên và khách quý).
+ Không ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm (nếu chủ nhà không mời).
+ Không ngồi trước và quay lưng vào bàn thờ.
+ Khi uống rượu cần phải mời mọi người xung quanh, không nên cầm uống ngay.
+ Không gắp đầu gà chân gà, gan gà trước khi chủ nhà mời (thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng kiến lòng thành của chủ nhà)
+ Không nên chụp hình thẳng vào mặt mọi người trong nhà khi ăn


Khi ngồi cạnh bếp lửa:


 
+ Không được dùng chân đẩy củi vào bếp.
+ Không được đút ngược ngọn tre, luồng, cây củi và bếp (quan niệm đẻ ngược).
+ Không nướng cơm, đồ (xôi) vì quan niệm mất mùa.


Khi đi ngủ:

 
- Không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà (chỉ người chết mới được nằm như vậy).
- Không nên mắc màn trắng vì lộ liễu
- Không được ngủ dưới bàn thờ. Người dân vùng cao rất thân thiện và cởi mở, nhưng nếu không rõ những phong tục tập quán của họ, bạn rất dễ làm mất đi những cảm tình của dân bản dành cho bạn mà bạn đang muốn gây dựng để cuộc đi chơi của bạn nhiều thú vị hơn.
Chúc bạn có những chuyến đi tuyệt vời!

(Nguồn Zing News)


I AM SO SORRY


A woman says that she and her husband were snuggled together on the floor one chilly winter evening watching television. During a commercial break, she says he reached over and gave her foot a gentle squeeze.
“Mmmmm,” she said. “That’s so sweet.”
“Actually,” he admitted sheepishly, “I thought your foot was the remote.”1
We all like to be cared for. We love caring people. We appreciate when someone cares enough to respond to our need.
A Caring Heart
A pastor tells a story: “I stopped at the local library one day to pick up a book I wanted. Afterward, as I was driving out of the parking lot, a filthy, scraggly man in ragged clothes pushing a shopping cart filled with what looked to be nothing but junk shambled across the lot exit. As I waited for him to complete his passage, the front wheels of his cart caught on a crack in the pavement and tipped over. I heard some glass shatter as the contents spilled out. This mishap occurred right in the middle of the exit, so there was no way I could get out of the lot until the man picked up his stuff and moved on. But clearly, that wasn’t going to happen quickly because he seemed to be in a kind of daze and was moving as if he didn’t quite know what to do. So I sat there in my car, drumming my fingers impatiently on the steering wheel, getting more annoyed by the second.
“Just then, however, the young woman who was in a car behind me got out and walked past my car to where the man was. In sharp contrast to him, she was nicely dressed, well groomed and appeared to be in full command of her faculties. I wasn’t close enough to tell, but I was pretty certain she smelled a whole lot better than he did, too.
“As I watched, she bent down and began helping this poor man put his items back into his cart, and she continued until everything was loaded. She then helped him get his cart past the crack in the pavement, and he resumed his shuffle down the street.
“I have to tell you that never in my life have I felt more like the Levite and the priest who passed by on the other side while the Good Samaritan, in the form of this young woman, helped the downtrodden guy at the roadside. And here’s the irony: The book I had come to the library to get was one I wanted to consult for a sermon I was working on. But in that parking lot, I saw a much better sermon played out in front of me.”2
We don’t know if that young woman was a church person, a Christian or a Catholic. But we know she has a true caring heart. I am sure she would feel joy in her heart because she cares. She cares enough to take actions to help that poor man. The pastor, on the other hand, has felt remorse and ashamed because he was not care enough. He has to say, “I am sorry! He missed the opportunity to attend to the needs of that poor man.”
The Rich Man
The parable of a rich man and a beggar named Lazarus is a great lesson that Jesus wants us to learn. He wants us to learn to be caring people. Caring people have caring heart. They care enough in order to take actions to help people in need. A caring heart will help us to avoid damnation. The rich man is condemned neither because he is rich nor because he is bad, cruel, violent or evil. He is condemned because he is lack of love for the poor hungry man lying at the door of his house. He walks by Lazarus, the poor man, every day. He, however, does not show any sign that he cares. He just ignores this poor man, Lazarus. We can say that this rich man does not have a heart for the poor. He just doesn’t care about the poor man. He does not offer any assistance. 
The main message for us is to be concerned about the hungry, the sick, the poor and to respond to their needs. Jesus is very clear about this in Matthew 25:31-46 as well. At the last judgment, he will judge us according our attitude toward the poor, the hungry, and the sick. He will remember the food we give to the hungry; the drink we give to the thirsty; the clothes we give to the naked; the help we give to the homeless; and the care we give to the sick etc.
The parable does not say what the poor man did in this life in order to be in heaven except that he was poor and received what was bad. He might accept his fate without complaints. But the parable is clear about the reason for the rich man to be suffering torment in flames. The rich man is in misery. He is suffering the fire of hell. Hell is a place for the loveless, careless, hard-hearted, and cruel people. In hell, he cries out for mercy, but it is too late for him. No repentance is possible after death.       
The Chasm
Because of his unconcerned for the poor man, the rich man has established a chasm between him and Lazarus in this life. This chasm also follows him after he dies. He had not built a relationship with the poor man on earth; he also would not have any relationship with the poor man after death. There is a great chasm between them, and it is uncrossable. Lazarus cannot help him.
Interestingly, the rich man shows some sign of care now. He begs father Abraham, “Then I beg you, father, send Lazarus to my father’s house, for I have five brothers, so that he may warn them, lest they too come to this place of torment.”
Abraham replies, “They have Moses and the Prophets; let them listen to them.”
“No, father Abraham, says the rich man, “but if someone from the dead goes to them, they will repent.”
Abraham firmly says, “If they do not listen to Moses and the Prophets, they will not be convinced even if someone rises from the dead.”
Jesus has risen from the dead. His message has been proclaiming for the last 2000 years. Many people still do not listen. Hell is avoidable if we take Jesus’ words to heart. Hell is avoidable if we begin to build relationships with the poor and the needy people around us. Hell is avoidable if we care for the needy people around us. We can train ourselves to become caring people. When we care, we will see the need of others. The rich man does not see the need of the poor man because he does not care. We can train our eyes to see and recognize people who are in need. Once we see their needs, we also need to take actions to respond to their needs. We must care enough to act.
I Heard My Brother Crying
Some years ago in a small village in the Midwest, a little twelve-year old girl named Terri was babysitting her little brother. Terri walked outside to check the mail. As she turned back from the mailbox, she couldn't believe her eyes. The house was on fire. So very quickly the little house was enveloped in flames. 

Terri ran as fast as she could into the flaming house only to find her baby brother trapped by a burning rafter which had fallen and pinned him to the floor. Hurriedly, Terri worked to free her brother. She had trouble getting him loose as the flames were dancing around their heads. Finally, she freed him. She picked him up and quickly took him outside and revived him just as the roof of the house caved in. 

By this time, firemen were on the scene and the neighbors had gathered outside the smoldering remains of the house. The neighbors had been too frightened to go inside or to do anything to help, and they were tremendously impressed with the courage of the twelve-year old girl. They congratulated her for her heroic efforts and said, "Terri, you are so very brave. Weren't you scared? What were you thinking about when you ran into the burning house?" I love Terri's answer. She said, "I wasn't thinking about anything. I just heard my little brother crying." 

Let me ask you something? How long has it been? How long has it been since you heard your brother or sister crying? How long has it been since you stopped and did something about it? 3

Rev. John Kha Tran
---------
1. Straight Talk (Dallas: Word Publishing, 1991, p. 124).
2. Homiletics. Sept/2010 pp.28-29.
3. James W. Moore, Collected Sermons, ChristianGlobe Networks, Inc.

http://nguoitinhuu.com


Thứ Năm, 12 tháng 12, 2013

Video: hát Xẩm "Hiếu Tự Ca"



Tại đại hội giới trẻ giáo tỉnh Hà Nội lần thứ 11 được tổ chức tại giáo phận Thái Bình ngày 27 - 28 tháng 11 năm 2013, đoàn giới trẻ giáo phận Phát Diệm đã đóng góp một tiết mục hát Xẩm. Những người con của quê hương nghệ nhân hát Xẩm nổi tiếng Hà Thị Cầu đã trình bày bài "Hiếu Tự Ca". Đây là bài hát được chuyển thể từ tác phẩm "Hiếu Tự Ca" của cha Phêrô Trần Lục (Cụ Sáu) nói về việc răn dạy đạo hiếu cho con người theo cái nhìn Kitô giáo. Dưới đây là video tiết mục nói trên.


Thứ Tư, 11 tháng 12, 2013

Ngôi sao Giáng sinh – huyền thoại và sự thật

Bạn có để ý rằng một trong những hình tượng được trang trí nhiều nhất trong mùa Giáng sinh là các ngôi sao không? Ngôi sao được đặt trên ngọn cây thông Noel, trên đỉnh Nhà thờ với các chùm đèn hoa tỏa xuống như ban phước lành cho mọi người; và mùa Giáng sinh cũng còn được gọi là “mùa sao sáng”. Đó chính là biểu tượng của ngôi sao Giáng sinh, còn gọi là ngôi sao Bethlehem.  

Huyền thoại …
Kinh Thánh (Matthew 2: 1-10) viết rằng:

Khi Chúa Jesus giáng sinh ở Bethlehem, dưới thời vua Herod, có ba nhà thông thái từ phương đông đi sang Jerusalem gặp Herod và hỏi nhà vua: “Xin Ngài cho biết vua của người Do Thái (tức là Jesus) được sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã nhìn thấy ngôi sao sáng của nhà vua ấy xuất hiện ở phương Đông nến muốn đến đó để tôn vinh nhà vua”. Vua Herod và mọi người trong thành Jerusalem lúc ấy đã rất ngạc nhiên và bối rối trước câu hỏi của các nhà thông thái. Herod đã triệu tập tất cả các thầy tu và các nhà thông thái trong thành Jerusalem, yêu cầu họ dự đoán nơi mà Jesus sẽ được sinh ra. Họ bảo cho Herod biết rằng, theo dự đoán của một nhà tiên tri thì Jesus sẽ giáng sinh tại Bethlehem, thuộc nước Do Thái (nước Israel ngày nay). Thế là Herod chỉ đường cho 3 nhà thông thái đến Bethlehem để tìm hài nhi vừa giáng sinh, và dặn rằng khi tìm được thì báo cho Herod để ông cùng đến tôn vinh Jesus. Sau đó, ba nhà thông thái lên đường, đi theo hướng của ngôi sao sáng mà họ đã nhìn thấy. Ngôi sao ấy luôn ở phía trước họ, dẫn đường cho họ đến Bethlehem và cuối cùng ngôi sao dừng lại ngay đúng ở nơi mà Jesus đã giáng sinh.
Ba nhà thông thái và cuộc hành trình theo ngôi sao Giáng sinh

… và sự thật
Ngôi sao giáng sinh thực chất là gì, hay đó thực sự là quyền năng của Chúa? Suốt nhiều thế kỷ, các nhà thiên văn học đã cố tìm cách lý giải sự xuất hiện của ngôi sao giáng sinh. Nhiều giả thiết đã được đưa ra, và cuối cùng, người ta đã xác định được thực chất của ngôi sao giáng sinh.
{loadposition article}
Muốn biết được ngôi sao giáng sinh thực chất là gì, trước tiên cần phải xác định khoảng thời gian mà Jesus ra đời, rồi từ đó tìm kiếm các sự kiện thiên văn xảy ra trong khoảng thời gian ấy để tìm ra sự kiện giống với mô tả trong kinh Thánh. Cho đến nay, các nhà sử học vẫn chưa thống nhất với nhau về thời gian mà Jesus ra đời, chỉ có thể biết đó là khoảng năm thứ 8 đến năm thứ 1 trước Công nguyên (TCN). Tuy nhiên, đa số nhà sử học cho rằng Jesus giáng sinh vào khoảng năm 3 hoặc năm 2 TCN. Bây giờ ta sẽ tìm xem có một thiên thể nào xuất hiện trong khoảng thời gian đó giống với mô tả của kinh Thánh (ngôi sao xuất hiện ở phương đông, xuất hiện vào một thời điểm xác định, luôn ở phía trước 3 nhà thông thái khi họ đi từ Jerusalem đến Bethlehem và dừng lại ngay trên Bethlehem, và vua Herod không hề biết sự xuất hiện của nó trước khi 3 nhà thông thái nói với ông).
Đó là một thiên thạch chăng?
Chúng ta biết rằng, thiên thạch là những khối đất đá trôi dạt trong vũ trụ. Khi chúng bay vào bầu khí quyển của Trái đất với tốc độ rất lớn, chúng bị ma sát với không khí và bốc cháy, tạo nên một vệt sáng vụt ngang qua bầu trời đêm. Tuy nhiên, các thiên thể bay vụt ngang qua bầu trời theo một hướng bất kỳ (không nhất thiết là từ phương đông), và nó chỉ tồn tại trong vài giây ngắn ngủi, nên không thể là ngôi sao dẫn đường cho ba nhà thông thái tìm đến nơi Jesus giáng sinh được.
Một thiên thạch bay vào bầu khí quyển của Trái đất và bốc cháy

Liệu có thể là một sao chổi không?
Sao chổi là một khối băng chuyển động quanh Mặt trời theo một quỹ đạo rất lớn (thường mất vài năm đến vài chục năm để hoàn thành một chu kỳ). Sao chổi đúng là mọc ở hướng đông và xuất hiện trong nhiều ngày. Tuy nhiên, thời xa xưa con người cho rằng sao chổi xuất hiện là báo hiệu điều chẳng lành, rằng sự xuất hiện của nó luôn kéo theo những thảm họa như chiến tranh, thiên tai, … Cho nên sao chổi không thể là “sứ giả” của Thượng đế để báo tin vui cho nhân loại. Điều quan trọng hơn nữa là các tài liệu thiên văn không ghi nhận sự xuất hiện của một sao chổi nào trong khoảng thời gian năm thứ 3, 2 trước Công nguyên. Một chi tiết nữa bác bỏ giả thiết về sao chổi là, nếu sao chổi xuất hiện thì vua Herod đã biết (vì ông cũng có các nhà thiên văn chuyên quan sát bầu trời hàng ngày) chứ không cần phải hỏi các nhà thông thái.



Sao chổi

Thế có phải là một ngôi sao siêu mới không?
Sao siêu mới là ngôi sao mới được hình thành từ một vụ bùng nổ. Do đó, nó xuất hiện đột ngột vào một thời điểm xác định tồn tại trong thời gian dài, có thể sáng rực rỡ và cũng mọc từ hướng đông. Tuy nhiên, các quan sát thiên văn cũng không ghi nhận một vụ nổ sao siêu mới nào trong thời gian năm 3, 2 trước Công nguyên.


Một vụ nổ sao siêu mới (supernova)

Như vậy thì ngôi sao giáng sinh còn có thể là gì nữa?
  Một chi tiết quan trọng là nhà vua Herod không hề biết đến sự xuất hiện của ngôi sao ấy cho đến khi 3 nhà thông thái nói với ông về nó. Và khi 3 nhà thông thái đã chỉ ra ngôi sao ấy, thì vua Herod cũng như tất cả mọi người trong thành Jerusalem lúc đó đều có thể nhận ra ngôi sao ấy trên bầu trời. Như vậy, có thể giả thiết rằng ngôi sao giáng sinh là một cái gì đó rất bình thường trên bầu trời đêm nên mọi người không chú ý đến, nhưng khi được chỉ ra thì người ta mới chú ý đến sự đặc biệt của nó. Vậy, có hiện tượng gì đặc biệt xảy ra trong một đêm bình thường vào khoảng năm 3 hoặc 2 trước Công nguyên không? Câu trả lời là “Có”.
Ta biết rằng, các hành tinh trong hệ Mặt trời chuyển động xung quanh Mặt trời với tốc độ khác nhau: các hành tinh càng gần Mặt trời thì chuyển động càng nhanh so với các hành tinh ở xa Mặt trời. Cho nên, từ Trái đất quan sát, ta sẽ thấy có những lúc hành tinh này vượt qua hành tinh kia. Hiện tượng này được gọi là “giao hội”, xảy ra khá phổ biến trên bầu trời đêm. Khi hai hoặc nhiều hành tinh tiến đến rất gần nhau rồi thẳng hàng với nhau, ta nhìn thấy như chúng nhập vào với nhau thành một hành tinh rất sáng. Tài liệu thiên văn ghi nhận có 9 lần giao hội xảy ra trong khoảng thời gian năm 3 đến năm 2 trước Công nguyên, trong đó, lần giao hội giữa sao Kim và sao Mộc xảy ra vào ngày 12 tháng 8 năm  thứ 3 trước Công nguyên có những đặc điểm rất giống với mô tả của kinh Thánh về ngôi sao giáng sinh. Buổi sáng ngày hôm ấy, sự giao hội giữa sao Kim và sao Mộc xảy ra tại vị trí gần với sao Regulus (là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Sư tử). Ta sẽ tìm hiểu kỹ sự giao hội này.
Sao Mộc và sao Regulus trong chòm sao Sư tử


Trước hết là về mặt ý nghĩa. Sao Mộc – Jupiter – được đặt theo tên của vị thần vĩ đại nhất trong thần thoại La Mã, là hành tinh lớn nhất trong hệ Mặt trời (đường kính gấp 11 lần và khối lượng gấp 300 lần Trái đất), và sao Mộc được xem là vua của các hành tinh. Sao Kim – Venus – được đặt theo tên Nữ thần sắc đẹp trong thần thoại Hy Lạp, là hành tinh sáng nhất trên bầu trời đêm. Sao Regulus là ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Sư tử được đặt theo chữ “regal”, nghĩa là (thuộc) đế vương, vua chúa; và sao Regulus được xem là vua của các vì sao. Do đó, sự hội ngộ của các ngôi sao này vào đúng thời điểm năm mới của người Do Thái (khoảng tháng 8, 9 Dương lịch) có thể coi là “sứ giả” báo tin tốt lành về một vị vua sắp chào đời – Jesus.
Ngày 14 tháng 9 năm 3 TCN, sao Mộc tiến đến giao hội với sao Regulus lần thứ nhất, chạy ngang qua nó, dừng lại, chạy ngược trở lại giao hội với sao Regulus lần thứ hai vào ngày 17 tháng 2 năm 2 TCN, sau đó lại dừng lại, chạy ngược trở lại và giao hội với sao Regulus lần thứ ba vào ngày 8 tháng 5 năm 2 TCN. Chuyển động như vậy được gọi là chuyển động giật lùi của các hành tinh. Nguyên nhân là do ta quan sát sao Mộc từ Trái đất, mà Trái đất thì ở quỹ đạo gần Mặt trời hơn và chuyển động nhanh hơn sao Mộc. Điều này cũng giống như khi bạn chạy xe trên đường và vượt qua một chiếc xe khác chạy chậm hơn. Ban đầu, bạn nhìn thấy chiếc xe ấy chuyển động về phía bạn, rồi dừng lại (biểu kiến) khi chiếc xe ấy ngang bằng với bạn và cuối cùng chuyển động ra xa bạn khi bạn đã vượt qua nó. Như vậy, bạn có cảm giác rằng chiếc xe ấy chuyển động giật lùi (ban đầu chạy đến bạn, dừng lại và cuối cùng chạy ra xa bạn). Như vậy, nhìn từ Trái đất, ta thấy giống như sao Mộc (vua của các hành tinh) đang “khiêu vũ” với sao Regulus (vua của các vì sao) - một biểu tượng của sự đăng quang.
Ngôi sao Giáng sinh trên bầu trời đêm


Ngày 17 tháng 6 năm 2 TCN, sao Mộc, sao Kim và sao Regulus cùng tiến đến giao hội. Quan sát từ Trái đất, ta thấy ba ngôi sao này chồng chập lên nhau, độ sáng của chúng tăng cường cho nhau tạo nên một ngôi sao sáng chói trên bầu trời đêm, về phía Đông nếu nhìn từ Babylon (nơi 3 nhà thông thái khởi hành) và về phía Nam nếu nhìn từ Jerusalem. Do đó, khi các nhà thông thái đi theo hướng Nam từ Jerusalem (sau khi gặp vua Herod) đến Bethlehem, ngôi sao này luôn ở phía trước họ như kinh Thánh mô tả. Ngày 25 tháng 12 năm 2 TCN, khi các nhà thông thái đến thị trấn nhỏ Bethlehem, họ nhìn thấy ngôi sao ấy “treo” ngay trên bầu trời nơi ấy, nơi mà Đấng cứu tinh đã giáng sinh.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này, xin mời ghé thăm trang web bethlehemstar.net.

Nguyễn Đông Hải
Nguồn: http://tinmung.net/

Một vài ý nghĩa về lễ Chúa Giáng Sinh





Dưới thời đế quốc Rô-ma, người ta mừng sinh nhật các nhà lãnh đạo, nên các Ki-tô hữu cũng muốn mừng sinh nhật Chúa của mình. Tuy nhiên, việc mừng lễ như thế ngay từ ban đầu không phải được mọi người chấp nhận. Các giáo phụ như I-rê-nê và Tê-tu-li-ô thậm chí bỏ không kể ngày Giáng Sinh nằm trong các lễ đạo. Riêng O-ri-gen còn cho rằng theo Kinh Thánh, chỉ có người tội lỗi mới mừng ngày sinh của mình. Và Ac-nô-bi-ô còn chế diễu về ngày sinh nhật của các thần thánh: đã là Chúa rồi mà còn có ngày sinh nhật? Nhưng theo thời gian, Giáo Hội phương Đông mừng ngày sinh của Chúa vào mùng 6 tháng Giêng, mở đầu niên lịch theo mặt trời, còn ngày lễ Hiển Linh thì để mừng lễ Chúa chịu phép Rửa. Đến khi lễ Hiển Linh du nhập vào phương Tây, thì lại để mừng việc Chúa tỏ mình cho Ba Vua. Vào năm 330, Giáo Hội Rô-ma lấy ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa. Đến thế kỷ thứ năm, thì tập quán này của Giáo Hội Rô-ma trở thành phổ quát, và giữ lại mừng hai ngày 25 tháng 12 cho Giáng Sinh và 6 tháng Giêng cho Hiển Linh.
Có người nghĩ rằng Giáo Hội chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Ki-tô vì muốn tín hữu quên đi ngày lễ Thần Mặt Trời (Natale solis invicti) mà Hoàng Đế Ao-rê-li-ô đã đặt ra để mừng thần Ê-mê-sa của người Sy-ri. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng việc chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh nhật của Chúa vì theo truyền thống, Giáo Hội đã từng mừng Lễ Truyền Tin và Tử Nạn của Chúa vào ngày 25 tháng 3.
Theo phụng vụ Rô-ma, có tất cả ba thánh lễ Giáng Sinh được cử hành vào ba thời điểm khác nhau: Lễ Nửa Đêm (missa in nocte), Lễ Rạng Đông (missa in aurora), và Lễ Ban Ngày (missa in die). Phúc Âm công bố trong  3 thánh lễ này cũng khác: Lễ Nửa Đêm là việc Truyền Tin (Lc 2:1-14), Lễ Rạng Đông thì kể lại việc mục đồng đến viếng thăm Chúa (Lc 2:15-20), và Lễ Ban Ngày nói về việc Nhập Thể (Ga 1:1-18). Ba thánh lễ được cho là biểu tượng 3 lần sinh của Chúa Giê-su: (1) sinh ra tự muôn đời, từ Chúa Cha, (2) sinh ra trong lịch sử, qua Đức Mẹ Maria, và (3)sinh ra trong tâm hồn con người, vào trong lòng của từng tín hữu.
Chung quanh Lễ Giáng Sinh và Mùa Vọng có một số phong tục tập quán đã hình thành. Mùa Vọng thì có việc thắp nến và làm vòng hoa bắt nguồn tại Đức quốc từ thế kỷ 16; việc chuẩn bị máng cỏ từ Pháp; hoạt cảnh tìm chỗ cho Chúa sinh (phát xuất từ Herbergesuchen của Đức quốc và Posada của Tây Ban Nha). Còn trong Mùa Giáng Sinh thì có hát thánh ca (Carols); làm hang đá hay máng cỏ (theo câu chuyện thánh Phan-xi-cô A-si-di làm hang đá cho Hài Nhi Giê-su); thắp nến đèn Giáng Sinh, cây thông (cũng phát xuất từ nước Đức). Rồi có những lễ nghi đã tục hóa hoàn toàn như gửi thiệp, tặng quà, và ăn uống vui chơi trong dịp lễ.
Người Thanh Giáo (Puritans) đã bãi bỏ hoàn toàn lễ Giáng Sinh vì cho rằng nó đã bị thế tục hoá. Vào năm 1642, họ cấm không có lễ nghi trong nhà thờ cũng như mừng lễ của công chúng trong ngày 25 tháng 12. Vào năm 1647, Quốc hội Anh đã chính thức ra lệnh hủy bỏ ngày lễ Giáng Sinh cũng như những ngày lễ khác. Mặc dù bị dân chúng phản đối, luật này vẫn được thi hành nghiêm nhặt. Mãi đến năm 1660, khi chế độ quân chủ được phục hồi, lễ Giáng Sinh mới được mừng trở lại, cũng như mừng lại việc ông già Noel. Tại các thuộc địa của Mỹ lúc bấy giờ, chuyện ông Sinter Klass của người Hoà Lan đã biến thành ông già Santa Claus, và việc thăm viếng của Thánh Ni-cô-la vào ngày 5 tháng 12 đã được dời vào đêm 24 tháng 12. Vì người Thanh Giáo ghét các ngày lễ cũng như các giám mục, nên hình tượng của ông già Noel Santa Claus đã được biến đổi cho giống thần Thor của người Bắc Âu hơn là giống thánh Ni-cô-la của thế kỷ thứ tư.
Ngày nay, người ta muốn tục hoá ngày lễ Chúa Giáng Sinh, vì có quá nhiều tôn giáo không tin vào Chúa Cứu Thế. Thay vì câu Merry Christmas đã có truyền thống lâu đời, nhiều tổ chức phi tôn giáo hay có gốc từ Ki-tô giáo, muốn tỏ ra tổ chức của mình khách quan, không thiên vị đạo nào, đã sử dụng câu chúc Happy Holidays trong dịp lễ Giáng Sinh. Người Công Giáo cũng như những người tin vào Chúa Giê-su không nên vô tình làm mất ý nghĩa ngày lễ cũng như căn tính của niềm tin mình, nên cần ý thức khi tổ chức lễ mừng trong dịp này, chẳng hạn không nên quá lưu ý đến việc vui chơi phung phí, cũng như không nên mua và gửi những tấm thiệp chỉ có câu chúc chung chung mừng lễ, mà không hề nhắc đến một biến cố trọng đại là việc Thiên Chúa là Ngôi Hai nhập thể, mang thân phận con người vì yêu thương chúng ta. Chính Chúa Giê-su là món quà Giáng Sinh lớn lao nhất mà chúng ta đón nhận, và qua việc đón nhận này, chúng ta cũng sẽ là món quà cho Chúa và cho tha nhân. Mà món quà nào cũng chỉ có ý nghĩa khi được cho đi, đón nhận, mở ra và chia sẻ. Chúa Giê-su đã là món quà trao ban cho chúng ta nhận lãnh, và như thế mầu nhiệm Thiên Chúa làm người mới thật có ý nghĩa cho người tín hữu. Merry Christmas – Mừng Chúa Giáng Sinh – Emmanuel - Joyeux Noël
 Khánh Linh
Nguồn: http://tinmung.net 

Nguồn gốc Lễ Giáng Sinh



Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh, Noel, Christmas hay Xmas (từ tiếng Pháp Noël, là viết tắt từ gốc Emmanuel, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta") là một ngày lễ kỷ niệm ngày Chúa Giê-su thành Nazareth sinh ra đời của phần lớn người Cơ Đốc giáo. Họ tin là Giê-su được sinh tại Bethlehem thuộc tỉnh Judea của nước Do Thái(Israel), lúc bấy giờ đang dưới quyền thống trị của Đế quốc La Mã giữa năm 6 TCN và năm 6.

Một số nước ăn mừng ngày này vào 25 tháng 12, một số nước lại vào tối ngày 24 tháng 12. Theo Công giáo Rôma, lễ chính thức là ngày 25 tháng 12 còn gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng". Dù vậy, lễ đêm 24 tháng 12 thường thu hút tin đồ tham dự nhiều hơn. Những người theo Chính Thống giáo Đông phương vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên họ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory.

Tên gọi

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (Đấng chịu sức dầu) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos,Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ
Lịch sử
Thời kỳ Giáo hội cơ đốc sơ khai (2,3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với lễ Hiễn linh. Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội thánh La tinh thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.[2]
Theo một nguồn khác thì tín hữu cơ đốc sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Đức Jesus trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ IV, những người Cơ đốc mới bắt đầu muốn ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Jesus mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền La Mã phát hiện và bắt bớ bởi vì đến lúc đó, cơ đốc giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.
Những người La Mã, hàng năm ăn mưng "Thần Mặt trời" (Feast of The SolInvictus) đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Những người cơ đốc đã nhân cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Đức Giêsu giáng sinh vào đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại (Gioan 8:12) cùng một ngày với ngày lễ "Thần Mặt trời" của người La Mã. Nhờ vậy, chính quyền đã không phát hiện việc các tín hữu cơ đốc tổ chức ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Giêsu.[1].
Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine đã bỏ đa thần giáo và theo cơ đốc. Ông này đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng "Thần Mặt trời" và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Jesus. Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Đức Jesus.

Trong nhiều thề kỷ, những nhà ghi chép Ki-tô giáo chấp nhận Giáng sinh là ngày Jesus được sinh ra đời. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày Giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với đông chí ở Bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12. Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày Giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước người Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ cuối tháng 12.

Biểu tượng Giáng sinh và ý nghĩa

1. Cây Giáng sinh


2. Vòng lá mùa vọng


Vòng lá mùa vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịp Đông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữu Pháo Lutheran ở Đức vào thế kỷ 16 để nói lên sự giao tranh giữa ánh sáng và bóng tối.
Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hi vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday).

3.Thiệp Giáng sinh


Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole, một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ Horsley, một họa sỹ ở London, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản. Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kì người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.

4. Quà Giáng sinh


Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên chúa đã ban tặng cho con người.

Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba vị vua phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó là vàng, trầm hương và mộc dược. Vàng tượng trưng Chúa Giêsu là vua ( tức con Chúa Cha - Vua Nước Trời), trầm hương tượng trưng Giê-su là Thiên Chúa và mộc dược biểu hiện hình ảnh Giê-su bị đóng đinh trên cây thánh giá hay nói rõ hơn là sự chịu chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giê-su hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Ông già Nô-en thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc tất.
Ngoài ra ngày nay ở Việt Nam thì giáng sinh cũng là dịp để các bạn trẻ có cơ hội gửi cho nhau những món quà, những bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân và bạn bè.
Giáng Sinh ở các nước

1.Việt Nam

Ngày nay, ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Trong những ngày này, cây thông Nô-en được trang trí ở nhiều nơi bằng cây thật (thường là thông ba lá hoặc thông mã vĩ) hay thông nhân tạo làm bằng nhựa, không phải cây thông như ở các nước phương tây thường là họ Bách tán. Trên cây, người ta thường treo các đồ trang trí nhiều loại nhưng thường có những cặp chuông, dây giả tuyết, những chiếc ủng, các gói quà tượng trưng và đèn trang trí giống như các nước phương Tây...
Lễ Giáng sinh ở Việt Nam là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp, những đôi tình nhân âu yếm tặng quà cho nhau, trẻ em háo hức chờ sự xuất hiện của Santa, gia đình bè bạn rủ nhau hội hè, yến tiệc, hát karaoke. Người Việt Nam rất thích thú các ca khúc Giáng sinh, đặc biệt là Feliz Navidad

2. Nhật Bản

Nhật Bản không có lễ Giáng Sinh chính thức. Giáng Sinh ở Nhật không mang màu sắc tôn giáo. Từ đầu tháng 12 phố xá đã bắt đầu treo đèn trang trí. Các trung tâm lớn ở Tokyo như ga Tokyo, Ikebukuro, Shinjuku, Shibuya, Roppongi, Ginza v.v. đều treo đèn gọi là illumination rất đẹp. Đặc biệt nổi tiếng có lẽ là hành lang đèn có tên “Tokyo Millenario" do đạo diễn mỹ thuật người Ý tên là Valerio Festi thiết kế chạy dài 800 m tại Marunouchi gần ga Tokyo.
Gần đến ngày Giáng Sinh tại các quảng trường đều có đặt cây thông. Các siêu thị bán nhiều đồ của lễ Giáng Sinh như giầy ủng đỏ đựng đầy bánh kẹo bên trong, các vòng lá thông gắn băng lụa đỏ và chuông mạ vàng, có cả bánh ngọt mùa Giáng Sinh của châu Âu như panettone có xuất xứ từ Italia. Một số nhân viên bán hàng hóa trang thành ông già Noel khi phục vụ khách hàng. Các cửa hàng bách hóa lớn (department stores) mở cửa đến 11 giờ đêm, làm việc cả 31 tháng 12 và 1 tháng 1. Trai gái thường lấy mùa Giáng Sinh để tỏ tình, tặng quà nhau mang ý nghĩa đặc biệt. Vào đêm Giáng Sinh các gia đình Nhật thường ăn bánh ngọt mùa Giáng Sinh do họ tự làm hoặc mua ở hiệu

3. Nga

Đối với những người theo Chính thống giáo Nga, nhiều nước Đông Âu và ở đất thánh Jerusalem, Giáng sinh rơi vào ngày 7/1 bởi họ dùng lịch cũ chứ không dùng lịch mới Gregorian có từ thế kỷ 16. Ông già Tuyết trong giáng sinh theo Chính thống giáo Nga có vẻ ngoài tương tự như "đồng nghiệp" ở phương Tây, nhưng lại mặc áo màu xanh và dắt theo một công chúa tuyết. Công chúa là người trao quà cho trẻ em. Với nhiều người Nga, lý do chính để ăn mừng Giáng sinh không phải bản thân ngày lễ này, mà đây là dịp để nghỉ ngơi. Người lao động có tới 10 ngày nghỉ, và với rất nhiều trong số họ thì đây là 10 ngày uống say sưa.

4. Ba Lan

Giáng Sinh là nghi lễ không thể thiếu được ở Ba Lan, được kết thúc bằng buổi lễ "Vidual" tổ chức ở nhà vào đêm Giáng Sinh. Trước khi Giáng sinh tới, mọi người thường quan tâm đến việc cùng chia sẻ và kết nối lại tình bạn để cho lễ kỉ niệm vào đầu mùa đông sẽ là sự kết hợp hài hoà giữa thời tiết và tinh thần của Giáng sinh. Lòng hiếu khách rất quan trọng. Những ngọn nến chiếu sáng ở mỗi ô cửa sổ để đón chào Thiên Chúa. Cây thông Nô-en được trang trí bằng hoa quả thật và bánh bích quy, cùng với cả các đồ trang trí khác hoặc giấy cắt và quả trứng

 Sưu tầm

Bạn biết gì về lễ Giáng Sinh ?





Lễ Giáng sinh có thể gọi chính xác là ngày nghỉ của các giác quan.

Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi. Khung cảnh Giáng Sinh được trang trí lộng lẫy khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, vô số những tấm thiệp được gởi để chúc mừng nhau. Hơn 2.000 năm qua, thế giới đánh dấu việc giáng sinh của Chúa Giêsu là lễ hội vui mừng nhất. Không có ngày nào trong năm vui mừng như vậy.

Chưa một Công đồng nào hoặc một Giáo hoàng nào công bố như vậy. Nhưng mỗi năm, Giáng Sinh đến như làn gió Đông bất ngờ thổi vào Tháng Mười Hai, như ánh nắng lấp lánh phản chiếu trên tuyết trắng xóa. Cảm giác rất lạ, đang từ mùa Đông cằn cỗi tới mùa ánh sáng vui mừng.

Giáng Sinh đầu tiên – ngày Chúa Giêsu giáng trần – là “cú sốc” đối với lịch sử nhân loại.

Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã sống và đã chết trong tội mà không biết, cảnh khốn khổ của thế gian này không thể tránh khỏi và niềm vui quá ít mà mau qua. Giáng Sinh tới, lịch sử được chia làm đôi: Trước ngày đó (trước Công nguyên), và sau ngày đó (sau Công nguyên). Thế giới hoàn toàn thay đổi. Vì Ơn Cứu Độ khởi đầu từ khi Thiên Chúa hóa thành nhục thể, khi Thiên Chúa hạ sinh tại Belem.

Thiên Chúa đến ở với chúng ta trên thế gian này. Thánh Gioan khởi đầu Phúc Âm bằng cách diễn tả một Thiên Chúa rất quyền năng, rất xa xôi, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả vì yêu thương nhân loại:

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:1-5).

Đó là Thiên Chúa mà chính các triết gia ngoại giáo cũng biết, họ gọi Ngài là Động Lực Đầu Tiên, Tạo Hóa, Thượng Đế. Kịch bản của Thánh Gioan lên tới đỉnh điểm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).

Đây là tin “giật gân”. Từ trời cao xa, từ thời điểm xa nhất, chính Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và “cắm lều” ở giữa Dân Ngài. Từ đời đời, Thiên Chúa là Ngôi Lời, nhưng không ai nắm bắt được Ngôi Lời. Bây giờ Ngài hóa thành Hài Nhi, và người ta có thể bồng bế hoặc ôm ấp Hài Nhi.

Theo sự thật lạ lùng của Kitô giáo, không gì táo bạo như điều này: Ngôi lời sinh ra tại một ngôi làng nhỏ, trong một hang đầy thú vật, vào một đêm vừa lạnh giá vừa tăm tối. Ngôi Lời đã làm người và đã thay đổi mọi thứ. Điều này làm cho lễ Giáng Sinh trở thành lễ gây sốc nhất trong lịch.

Ý nghĩa lễ Giáng Sinh được gom lại trong điều này. Thiên Chúa đã sống trong một gia đình như chúng ta. Ngài cũng run người vì lạnh như chúng ta. Ngôi-Lời-mặc-xác-phàm cũng đã bú sữa mẹ như các em bé khác, cũng khóc lóc khi cơ thể bất an. Hoàn toàn như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Truyền thống cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan viết đoạn mở đầu cho Phúc Âm của ngài khi được linh hứng cao độ. Bạn bè của ngài đã bảo ngài viết chuyện đời Chúa Giêsu, thế nên ngài bảo họ ủng hộ ngài bằng cách ăn chay và cầu nguyện. Khi ăn chay xong, Thần Khí ngự xuống trên Thánh Gioan, và ngài như không còn là chính mình. Ngôn từ cứ tuôn trào – có thể chính là những từ mà ngài cố gắng tìm mà chưa bao giờ tìm được.

Chúng ta có thể thấy lạ trong giọng điệu khi ngài nói với chúng ta rằng Ngôi Lời trở nên người phàm. Khi ngài viết, hẳn là ngài cũng cảm thấy rất hưng phấn, như lần đầu đến nhà của thợ mộc Giêsu ở làng Nadarét, Đấng Được Xức Dầu, Con Thiên Chúa.

Sự ngạc nhiên này cũng có trong thư thứ nhất của Thánh Gioan. Theo truyền thống, Thánh Gioan viết lá thư đó 66 năm sau khi Chúa Giêsu về trời, nhưng vẫn có sự ngạc nhiên trong lối hành văn của ngài. Ngài vẫn như thể không tin được rằng “điều đó là từ khởi đầu” cũng là “điều mà chúng ta nghe, thấy và sờ được”.


Trong thời Giáo hội sơ khai, lễ Giáng Sinh không là lễ quan trọng. Cuộc đời Chúa Giêsu vẫn là ký ức sống, và sự phục sinh của Ngài vẫn chiếm vị trí trung tâm trong lịch. Nhưng theo thời gian, các thầy dạy giả mạo bắt đầu không chịu nhận nhân tính nơi Chúa Giêsu. Họ cho rằng cơ thể Chúa Giêsu là cách cải trang tinh vi, chứ Thiên Chúa không bao giờ hạ giá chính Ngài bằng cách “mặc lấy xác phàm”. Sau đó, các tà thuyết từ chối việc Đức Mẹ sinh ra Ngôi Lời. Họ nói rằng Đức Mẹ sinh ra “thùng” chứa đựng Ngôi Lời. Các tà thuyết vẫn cho rằng Chúa Con là phần phụ, như thần thánh, chứ không đồng bản thể và vĩnh hằng với Chúa Cha.

Các tà thuyết này có một điểm chung: Không chấp nhận việc làm người của Con Thiên Chúa. Arius là người lập ra tà thuyết Arian, ông là người giỏi về luận lý. Ông từ chối tín điều Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi), ông cho rằng ba không thể là một, đó là số học sơ đẳng. Thiên Chúa vô hạn không thể làm người hữu hạn, đó là triết học sơ đẳng. Do đó không thể có việc Thiên Chúa làm người.

Những người lạc giáo như Arius muốn dành cho Thiên Chúa sự sỉ nhục không thể lý giải của sự lệch lạc vì kết hợp quá sát với bản tính nhân loại. Đó cũng là vấn đề tương tự mà nhóm Pharisêu không thể vượt qua: Nếu Ông Giêsu này quá tốt, tại sao Ngài thân thiết với người tội lỗi và người thu thuế? Thật vậy, mặc dù những người theo tà thuyết khăng khăng cho rằng họ bảo vệ sự hoàn hảo của Thần tính, họ vẫn thực sự từ khước sự hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, tình yêu có thể có vẻ bất khả lý luận. Bất kỳ ai đánh giá người khác như chính mình đều có vẻ hoàn toàn thái quá.

Hầu như không thể trùng khớp việc kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu theo lịch sử và theo nghĩa đen, Ngài là con bác thợ mộc bắt đầu đảm trách việc quan trọng hơn khi đức tin đích thực bị choán bởi các sai lầm rất nguy hiểm là từ chối việc hóa thành nhục thể. Mừng Con Thiên Chúa giáng sinh là tách điều chính thống với tà thuyết. Mừng Chúa Giáng Sinh đưa Giáo hội tới nguyên tắc rõ ràng.

* * *

Từ đầu, không có sự thống nhất về ngày lễ Giáng Sinh. Giáo hội ở Ai Cập đặt ngày Đức Kitô giáng sinh vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Các Giáo hội khác đặt vào tháng Ba, hoặc bất kỳ tháng nào mà họ thích. Điều cũng phổ biến là kết hợp lễ Giáng Sinh với lễ Hiển Linh (Ba Vua), đặt cả hai lễ này vào ngày 6 tháng 1. Nhưng khoảng thập niên 400, lễ Giáng Sinh được ấn định ngày 25 tháng 12 cho tới ngày nay.

Có ít nhất ba giả thuyết về lễ Giáng Sinh được mừng vào ngày 25 tháng 12. Cả ba đều hợp lý.

Giả thuyết thứ nhất đơn giản nhất. Chuyện xưa kể rằng, khoảng năm 350, ĐGH Julius I tìm ngày Chúa Giêsu giáng sinh trong hồ sơ điều tra dân số. Không thấy trong hồ sơ có thông tin về 350 năm sau đó. Chúng ta biết qua Phúc Âm theo Thánh Luca rằng Chúa Giêsu sinh ra trong thời gian điều tra dân số. Người Rôma, với sự tôn trọng mệnh lệnh, có thể đã giữ hồ sơ quá kỹ ở nơi nào đó tại Rôma nên không thể phát hiện.

Giả thuyết thứ nhì cho rằng các Kitô hữu không thể bỏ lễ kỷ niệm giữa mùa Đông của người ngoại giáo, nên dùng ngày đó luôn. Xuyên suốt lịch sử, người ta đã bỏ qua những ngày ngắn trong năm như ngày Đông chí hoặc Hạ chí. Khi ngày bắt đầu dài trở lại, nghĩa là mùa Đông cũng qua, và thế giới sẽ tái sinh vào mùa Xuân.

Nguồn gốc ngoại giáo của ngày này không làm chúng ta thành xấu xa. Thật vậy, nhiều truyền thống Kitô giáo đã có nguồn gốc từ ngoại giáo. Chẳng hạn cây Giáng Sinh không liên quan gì tới ngày Chúa Giêsu giáng sinh, nhưng chắc chắn mang ý nghĩa là nghi lễ giữa mùa Đông của ngoại giáo: Nhờ sự thông cảm, chúng ta đem tinh thần này vào ngày lễ bằng một cây xanh – cây này vẫn sống khi các cây khác đã chết khô. Và đó cũng là biểu tượng xứng hợp đối với các Kitô hữu. Cây xanh là phép ẩn dụ minh nhiên về niềm hy vọng của cuộc sống mới mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta.

Còn nữa, đèn nến mà chúng ta thắp sáng khắp nơi trong lễ Giáng Sinh có thể là sự sống còn của nghi lễ ngoại giáo – một lần nữa lại là dạng thông cảm, lửa thắp sáng để làm mặt trời chết sống lại. Nhưng ánh sáng luôn là biểu tượng ưa thích của Kitô giáo.

Chúng ta biết rằng Giáo hội thời sơ khai thường lợi dụng niềm tin hoặc tục lệ của dân địa phương để loan truyền Phúc Âm. Chính Thánh Phaolô đã có một câu nổi tiếng được khắc trên bàn thờ dâng kính một vị thần ở A-thê-na (Athens): “Thưa quý vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết.23 Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17:23). Tinh thần của Thánh Phaolô có rất nhiều trong Giáo hội trong việc phát triển cách hiểu của Kitô giáo về các lễ hội được ưa thích của người ngoại giáo, giải thích cho những người chuyển đạo rằng họ thực sự tôn thờ không chỉ Thần ánh sáng mà là Chúa Nguồn Sáng.

Giả thuyết thứ ba giải thích về ngày 25 tháng 12 là nó thích hợp với khái niệm của Giáo hội sơ khai về sự sống hoàn hảo của Chúa Giêsu. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu chết ngày 25 tháng 3. Các thần học gia lý luận rằng, để sự sống của Ngài hoàn hảo, Ngài cũng phải được thụ thai vào ngày 25 tháng 3, rồi sinh ra 9 tháng sau đó.

Ý tưởng về sự sống của Chúa Giêsu có sự hoàn hảo về mỹ học phải làm thỏa mãn thời đại cho tới thời triết học tân Platon. Điều đó đã làm thỏa mãn các nhà thông thái cũng như lễ hội giữa mùa Đông làm thỏa mãn tình cảm của dân chúng.

Các giả thuyết này đều có thể là thật. Chẳng hạn, người ta tưởng tượng rằng Đức giáo hoàng đã khám phá ngày tháng trong cuộc điều tra dân số, và Giáo hội lợi dụng sự thích hợp đó với ngày tháng của lễ hội ưa thích của người ngoại giáo, cũng như các Kitô hữu lợi dụng tính cân xứng với ngày chết của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu đã tới các quốc gia theo cách mà các quốc gia đã được chuẩn bị để nghe biết. Nhờ đưa ra cách hiểu về Kitô giáo đối với phong tục địa phương hoặc ý tưởng triết học hợp lý, Giáo hội đã cho những người mới theo đạo cách hiểu lịch sử của việc Chúa giáng sinh theo cách mà họ có thể hiểu.

* * *

Khi lễ hội này lan tràn khắp các nước mới gia nhập Kitô giáo ở Âu châu và Đông phương, người ta gom các phong tục ngoại giáo cổ xưa hơn và tạo cách hiểu mới. Lễ Giáng Sinh lan truyền tới đâu thì đều có vẻ mới nhưng vẫn quen thuộc với những người mới theo đạo. Có thể chính sự quen thuộc đó đã làm cho lễ Giáng Sinh được người ta yêu thích.

Khoảng năm 1100, lễ Giáng Sinh đã trở nên lễ quan trọng nhất trong năm. Suốt thời Trung cổ, lễ Giáng Sinh được cử hành ở khắp nơi với những cảnh đẹp lộng lẫy và niềm vui mừng. Người ta hát những bài ca giáng sinh mà họ thích; những đám rước nhộn nhịp qua các con đường nhỏ ở các thành phố thời Trung cổ; và bất kỳ nơi nào cũng tỏa mùi thơm từ những món ăn mừng lễ Giáng Sinh.

Tuy nhiên, với cuộc Cải cách Tin Lành, có những thay đổi về văn hóa. Họ hăng hái chống lại mọi sự lạm dụng trong Giáo hội, nhiều nhà cải cách đã nhắm vào lễ Giáng Sinh chỉ là một trong các lễ hội ngoại giáo. Theo nghĩa nào đó, dĩ nhiên họ đúng: Nhiều truyền thống có nguồn gốc ngoại giáo. Nhưng các phe chống lễ Giáng Sinh đã chỉ phê phán bằng “cái gốc” đáng lẽ họ phải phê bình bằng “hoa trái”.

Khi những người theo Thanh giáo chiếm lĩnh ở Anh quốc, họ đã cấm lễ Giáng Sinh. Các cửa tiệm phải mở toang ra. Bất kỳ ai bị phát hiện một miếng bánh nào sẽ gặp rắc rối. Người Thanh giáo cho rằng các loại bánh khúc cây, bánh mận, và những bài hát giáng sinh tạo nên lễ Giáng Sinh truyền thống Anh quốc đều không là gì khác ngoài việc tôn sùng ngẫu tượng ngoại giáo, thế thì phải dẹp bỏ. Có một số người phản đối, thậm chí một số người còn sẵn sàng chết vì bảo vệ lễ Giáng Sinh, nên dân chúng vẫn theo truyền thống dùng lễ Giáng Sinh là ngày nghỉ – nhưng người Thanh giáo vẫn chiếm ưu thế, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Để phản kháng, người Thanh giáo ra lệnh rằng lễ Giáng Sinh phải là ngày ăn chay. Truyền thống này không bao giờ được tiếp nối. Dễ dàng nói rằng việc ăn chay không bao giờ được theo vì tính yếu đuối nhân loại – cuối cùng, người ta thích ăn mừng lễ hơn ăn chay vì tự nhiên như người ta thích vui hơn thích buồn. Nhưng Mùa Chay không bao giờ bị bỏ ra ngoài lịch. Các Kitô hữu tốt lành sẵn sàng chịu đựng sự từ bỏ mình khi thích hợp. Nhưng điều đó có vẻ không thích hợp với lễ Giáng Sinh.

Có điều người Thanh giáo không hiểu, và có điều nhiều người tốt vẫn không hiểu, đó là không có sự mâu thuẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và tận hưởng sự sáng tạo của Thiên Chúa. Không gì xấu để tận hưởng những điều tốt lành mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Phép lạ thứ nhất của Chúa Giêsu là hóa nước thành rượu – mà không chỉ là rượu thường, thánh Gioan tỉ mỉ cho biết đó là loại rượu hảo hạng. Rõ ràng Con Người có vị giác rất tốt theo nhân tính.

Một số các Kitô hữu sai lầm như Thanh giáo đều xấu hổ vì hiểu đức tin với niềm vui trần tục. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh là mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Thánh Athanasiô nói rằng chữ “nhục thể” (xác thịt) là sự chính thống anh hùng vô địch khi những đám mây tà thuyết có vẻ đen tối nhất, “nhục thể không loại bỏ vinh quang của Ngôi Lời, tư tưởng còn xa hơn. Ngược lại, nhục thể được Thiên Chúa làm cho vinh quang”.

Một số các Giáo phụ gọi lễ Giáng Sinh là lễ Hóa Thân, theo nghĩa gốc tiếng Latin. Khi Thiên Chúa mặc xác phàm, chính nhục thể trở thành vật thánh, là điều được cử hành bằng hình ảnh, tượng và thiệp giáng sinh.

Thế kỷ VIII, một bè rối nổi lên trong Giáo hội và tự nhận là “Iconoclasts”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “những người đập nát hình ảnh” (tức là phá ngẫu tượng). Họ cố gắng “thanh lọc” và “tâm linh hóa” đời sống Kitô giáo bằng cách xóa bỏ mọi biểu tượng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các thánh. Họ phá hủy mọi hình ảnh tôn giáo trong thời Đế quốc La Mã Đông phương, và họ chặt tay các Kitô hữu nào không loại bỏ các ảnh tượng. Họ nói rằng Thiên Chúa không thể được thể hiện qua ảnh tượng; ai làm vậy là thờ ngẫu tượng. Nhưng đây là cách mà Thánh Gioan thành Damascô trả lời họ: “Thời xưa, Thiên Chúa không được thể hiện bằng bất kỳ cách nào. Nhưng ngày nay, vì Thiên Chúa đã mặc xác phàm và sống giữa chúng ta, tôi có thể biểu hiện điều nhìn thấy ở Thiên Chúa. Tôi không tôn thờ chất liệu, mà tôi tôn thờ Đấng tạo nên chất liệu và trở nên chất liệu vì tôi… Qua chất liệu, Ngài hoàn tất ơn cứu độ cho tôi”.

Nói cách khác, sự “hóa thân” làm thành nghệ thuật, và cũng là đồ thánh, cũng như điều đó làm cho cơ thể thành vật thánh. Các họa sĩ đã vẽ tranh giáng sinh qua nhiều thế kỷ mà không tạo ra ngẫu tượng. Cách thể hiện của họ là những bài Thánh ca (hymns) ca tụng Thiên Chúa vô hình được làm thành hữu hình.

Nhìn vào bất kỳ tranh giáng sinh cổ điển nào đều có thể cảm nhận Thiên Chúa. Mỗi con vật trong hang đá là một thụ tạo; mỗi cọng rơm trong máng cỏ đều được rút ra bằng sự cẩn thận vô cùng. Trong các cảnh của Kinh thánh, các họa sĩ đã yêu quý vẽ ra từ nhiều thế kỷ qua, lễ Giáng Sinh gợi nhớ sự vui mừng nhất trong niềm vui vẽ tranh, và Thiên Chúa hiện hữu trong từng chi tiết đó.

* * *

Câu chuyện giáng sinh của mọi người là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh sử Luca. Điều làm cho câu chuyện đó được yêu mến là sự thân thiện. Thánh Luca có vẻ như viết cho dân ngoại, cố gắng tới đúng chỗ Chúa Giêsu sinh ra về phương diện lịch sử và địa lý. Chúa Giêsu giáng sinh không là một ẩn dụ hoặc ngụ ngôn như những câu chuyện thời Trung cổ, mà đó là sự kiện thật ở nơi thật mà lịch sử có thể chứng minh.

Thánh Luca tiếp tục cho chúng ta thấy kỹ năng viết của một sử gia, chính xác các chi tiết mà chúng ta cần biết về sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết Thánh Giuse và Mẹ Maria cảm thấy thế nào khi không có chỗ trọ, và các ngài vui thế nào khi tìm được cái hang chiên lừa, và khiến chúng ta cũng cảm thấy như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Rất chi tiết. Còn các tác giả Phúc Âm khác không cho chúng ta biết chi tiết như vậy, mà chỉ nói các điểm chính.

* * *

Ngôi Lời hóa thành nhục thể không chỉ là sự kiện một lần trên Thập giá hoặc Thăng thiên. Đức Giêsu Kitô không chỉ đến trong thế gian ở một nơi đặc biệt và vào thời điểm đặc biệt, mà Ngài còn thiết lập Giáo hội là Nhiệm Thể Ngài trên thế gian này. Các cộng đoàn tín hữu sinh sống ở mọi nơi trên hành tinh này – họ là các chi thể của Đức Kitô. Nếu bạn muốn biết Chúa Giêsu như thế nào, hãy vào nhà thờ và nhìn xung quanh bạn.

Hơn nữa, chúng ta còn gặp Đức Kitô hiện thân trong Bí tích Thánh Thể, vì Ngài nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). “Hóa thân” không là điều trừu tượng – đó là điều “cụ thể kỳ diệu” trong đời sống thường nhật của chúng ta. Điều đó không chỉ xảy ra hơn hai ngàn năm trước mà vẫn đang xảy ra từng ngày trong thời đại chúng ta ngày nay.

“Hóa thân” là “hiện thân” của tình yêu hiện hữu trong những điều thực tế mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta. Đó không chỉ vì sự hiểu biết của phàm nhân yếu đuối mà các bí tích đều được cử hành bằng các dấu bề ngoài. Chúa Con đã hóa điều đó nên sự thánh.

Chính trong Thánh Thể, chúng ta thấy sự nuôi dưỡng dành cho tinh thần được mô tả trong dạng sơ đẳng nhất của sự nuôi dưỡng dành cho thân xác. Thiên Chúa vĩnh hằng hiện ra với chúng ta trong dạng tạm thời của bánh và rượu: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:26-28). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta được gợi nhớ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã trở nên xác thịt thực sự để xẻ ra và máu thực sự để đổ ra.

Sự hóa thân đó cho chúng ta cảm thấy niềm vui thực sự thích hợp với lễ Giáng Sinh. Qua sứ vụ của Ngài, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chữa lành các bệnh nhân và làm no thỏa những người đói khát. Ngài yêu thương chúng ta không chỉ để đưa chúng ta về Thiên đàng với Ngài, mà Ngài còn muốn chúng ta tận hưởng hạnh phúc ngay khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta một điều duy nhất là yêu mến Ngài, đồng thời yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Người ta vẫn thấy dấu vết của tình yêu Kitô trong các phong tục cổ và thói quen tặng quà giáng sinh. Việc mua thiệp giáng sinh cũng là sự thôi thúc của Kitô giáo là “trao tặng”, như Chúa Giêsu đã dạy: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35).

Chúa Giêsu luôn thấy điều tốt nơi chúng ta và tha thứ lỗi lầm cho chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta phải làm cho người khác hạnh phúc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều đó hiện thực nơi mỗi chúng ta.

Đây là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta: Chúng ta có thể xác để dùng nó mà thờ lạy Thiên Chúa, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà đem lại sự thuận lợi, an ủi và chữa lành, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác vì mục đích làm vinh danh Thiên Chúa.

Lễ Giáng Sinh chan hòa niềm vui: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Chúa Giêsu sinh ra nơi hang bò lừa hôi tanh cho những gia đình lao động nghèo. Đó là điều vinh dự đích thực. Không gì lý tưởng bằng việc Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Con Thiên Chúa sinh ra theo cách rất ư bình thường, thậm chí còn tệ hơn bình thường. Những người đầu tiên biết Tin Vui này là những mục đồng chăn chiên nghèo khổ, chứ không phải những người cao sang quyền thế hoặc hoàng đế Augustô tại dinh thự ở Rôma, cũng chẳng phải bạo chúa Hêrôđê. Đó là sự kỳ diệu của Ngôi-Lời-Làm-Người: Ngôi Lời thực sự là người như chúng ta.

Câu chuyện giáng sinh là câu chuyện kể về cách mà xác thịt hóa thành thánh thiêng, thân xác được thánh hóa, và niềm vui trần tục trở nên thánh ca chúc tụng Thiên Chúa. Như vậy, lễ Giáng Sinh là lễ dành cho ngũ quan. Chúng ta thích nghe đi nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh mà không chán, và câu chuyện đó vẫn ở mãi trong chúng ta.

TRẦM THIÊN THU

Chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com

Nguồn: tinmung.net